Đừng tưởng Bùi Giáng – Phạm Ngọc Vinh's Blog

Gần đây bài Thơ Đừng tưởng Bùi Giáng làm bão cộng đồng yêu thơ trên mạng In tẹt nét.

Chúng ta cùng xem lại bài Thơ Đừng tưởng nhé.

Đừng tưởng cứ núi là cao Cứ sông là chảy cứ ao là tù Đừng tưởng cứ dưới là ngu Cứ cao là sáng cứ tu là hiền.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên Cứ nhiều là được cứ tiền là xong Đừng tưởng không nói là câm Không nghe là điếc không trông là mù

Bạn đang xem: bài thơ đừng tưởng

Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần.

Đừng tưởng cứ mới là tân Cứ hứa là chắc , cứ ân là tình Đừng tưởng cứ thấp là khinh Cứ chùa là tĩnh, cứ đình là to .

Cứ già là hết hồ đồ Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền Đừng tưởng cứ quyết là nên Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua.

Dưa vàng đừng tưởng đã chua Sấm dền đừng tưởng sắp mưa ngập trời Khi vui đừng tưởng chỉ cười Lúc buồn đừng tưởng chỉ ngồi khóc than …..!

Đừng tưởng cứ nốc là say Cứ Hứa là Thật, cứ Tay là Cầm Đừng tưởng cứ giặc – ngoại xâm Cứ Bè là Bạn, cứ Dân là Lành

Đừng tưởng cứ trời là xanh Cứ Đất và Nước là thành Quê Hương Đừng tưởng cứ Lớn là Khôn Cứ Bé là Dại, cứ Hôn… là Chồng

Đừng tưởng chẳng có thì không Chẳng trai thì gái, chẳng ông thì bà Đừng tưởng chẳng gần thì xa Chẳng ta thì địch, chẳng ma thì người

Đừng tưởng chẳng khóc thì cười Chẳng lên thì xuống, chẳng ngồi thì đi Đừng tưởng sau nhất là nhì Gần quan là tướng, gần suy là hèn

Đừng tưởng cứ sáng là đèn Cứ đỏ là chín, cứ đen là thường Đừng tưởng cứ đẹp là thương Cứ Xấu là Ghét, cứ Vương là Tình Đừng tưởng cứ ghế là vinh Cứ tiền là mạnh, cứ dinh là bền

Đừng tưởng cứ cố là lên Cứ lỳ là chắc, cứ Bên là Gần Đừng tưởng cứ đều là cân Cứ đông là đủ, cứ ân là nhờ

Đừng tưởng cứ vần là thơ Cứ âm là nhạc, cứ tờ là tranh Đừng tưởng cứ vội thì nhanh Cứ Tranh là Được, cứ Giành thì Hơn

Đừng tưởng Giàu hết Cô đơn Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo Đừng tưởng cứ bến là neo Cứ suối là lội, cứ đèo là qua

Đừng tưởng chồng mẹ là cha Cứ khóc là khổ cứ la là phiền Đừng tưởng cứ hét là điên Cứ làm là sẽ có tiền đến ngay Đừng tưởng cứ rượu là say

Cứ gió là sẽ tung bay cánh diều Đừng tưởng tỏ tình là yêu Cứ thơ ngọt nhạt là chiều tương tư Đừng tưởng đi là sẽ chơi Lang thang dạo phố vào nơi hư người

Đừng tưởng vui thì sẽ cười Đôi hàng nước mắt lệ rơi đầm đìa Đừng tưởng cứ mực là bia Bút sa gà chết nhân chia cộng trừ…

Đừng tưởng cứ gió là mưa Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè Đừng tưởng cứ hạ là ve Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu là lá tuôn Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu. Đừng tưởng cứ Thích là Yêu Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng tình chẳng lung lay Chỉ một giấc ngủ, chẳng may … có bầu. Đừng tưởng cứ cầu là hên, Nhiều khi gặp hạn, ngồi rên một mình.

Đừng tưởng vua là anh minh, Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than. Đừng tưởng tìm bạn tri âm, Là sẽ có kẻ mạn đàm suốt đêm.

Đừng tưởng đời mãi êm đềm, Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân. Đừng tưởng cười nói ân cần, Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường Nói lời ngon ngọt mười phương chết người Đừng tưởng cứ chọc là cười Nhiều khi nói móc biết cười làm sao ?!!!

Đừng tưởng khó nhọc gian lao Vượt qua thử thách tự hào lắm thay Đừng tưởng cứ giỏi là hay Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng cứ quỳnh là thơm Nhìn đi nhìn lại hóa ra cúc quỳ Đừng tưởng mưa gió ầm ì Ngày thì đã hết trời dần về đêm

Đừng tưởng nắng gió êm đềm Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng Đừng tưởng góp sức là chung Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Xem thêm: mạch cộng 4 bit full adder | Bestshop

Đừng tưởng cứ tiến là lên Cứ lui là xuống, cứ yên là mằn (mần, làm) Đừng tưởng rằm sẽ có trăng Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng Đừng tưởng cứ nước là trong Cứ than là hắc, cứ sao là vàng

Đừng tưởng cứ củi là than Cứ Quan là Có, cứ Dân là Nghèo_ Đừng tưởng cứ khúc là eo Cứ lúc là mạc, cứ Sang là Giàu

Đừng tưởng cứ thế là khôn! Nhiều thằng khốn nạn còn hơn cả mình Đừng tưởng lời nói là tiền Có khi là những oán hận chưa tan Đừng tưởng dưới đất có vàng Vàng đâu chả thấy phí tan cuộc đời

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn Cứ sang là trọng , cứ tiền là xong Đừng tưởng quan chức là rồng Đừng tưởng dân chúng là không biết gì .

Đời người lúc thịnh lúc suy Lúc khỏe , lúc yếu , lúc đi lúc dừng Bên nhau chua ngọt đã từng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau .

Ở đời nhân nghĩa làm đầu Thủy chung sau trước , tình sâu nghĩa bền Ai ơi nhớ lấy đừng quên ………

———————

Vài nét về nhà thơ Bùi Giáng

[fusion_builder_container hundred_percent=”yes” overflow=”visible”][fusion_builder_row][fusion_builder_column type=”1_1″ background_position=”left top” background_color=”” border_size=”” border_color=”” border_style=”solid” spacing=”yes” background_image=”” background_repeat=”no-repeat” padding=”” margin_top=”0px” margin_bottom=”0px” class=”” id=”” animation_type=”” animation_speed=”0.3″ animation_direction=”left” hide_on_mobile=”no” center_content=”no” min_height=”none”]

Đừng tưởng
Đừng tưởng

buigiang2 buigiang3 buigiang4 dung-tuong-Bui-giang

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con đầu của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền, nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu.

Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn.

Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa. Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành chung.

Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh.

Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử tới Hà Tĩnh để tiếp tục học. Từ Quảng Nam phải đi bộ theo đường núi hơn một tháng rưỡi, nhưng khi đến nơi, thì ông quyết định bỏ học để quay ngược trở về quê, để đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước.

Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương. Thi đỗ, ông vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa. Tuy nhiên, theo T. Khuê thì sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy lại, ông quyết định chấm dứt việc học và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.

Năm 1965, nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông.

Năm 1969, ông “bắt đầu điên rực rỡ” (chữ của Bùi Giáng). Sau đó, ông “lang thang du hành Lục tỉnh” (chữ của Bùi Giáng), trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc…

Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn cho đến khi qua đời.

Thi sĩ Bùi Giáng mất chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy (TP. HCM, Sài Gòn cũ) sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng). và:

Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi Đi lên đi xuống đã đời du côn!

Ông được chôn cất tại nghĩa trang Gò Dưa, quận Thủ Đức, TP.HCM.

Tác phẩm

Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Bùi Giáng gồm (tạm phân theo thể loại):

Bài viết liên quan: tả bạn thân của em lớp 5

Tập thơ

Mưa nguồn (1962) Lá hoa cồn (1963) Màu hoa trên ngàn (1963) Ngàn thu rớt hột (1963) Bài ca quần đảo (1963) Sa mạc trường ca (1963) Sa mạc phát tiết (1969) Mùi Hương Xuân Sắc (1987) Rong rêu (1995) Đêm ngắm trăng (1997) Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994) Thơ Bùi Giáng (California, 1994)… Mười hai con mắt (2001) Thơ vô tận vui (2005) Mùa màng tháng tư (2007)

Nhận định

Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan Nhận xét về Lục Vân Tiên Nhận xét về Chinh phụ ngâm và Quan Âm Thị Kính. Nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần. Tất cả đều được xuất bản năm 1957.

Giảng luận

Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Giảng luận về Chu Mạnh Trinh Giảng luận về Tôn Thọ Tường Giảng luận về Phan Văn Trị Tất cả đều được xuất bản năm 1957-1959.

Triết học

Tư tưởng hiện đại (1962) Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại I và II (1963) Sao gọi là không có triết học Heidgger? (1963) Dialoque (viết chung, 1965)

Tạp văn

Các sách xuất bản năm 1969, có:.

Đi vào cõi thơ Thi ca tư tưởng Sa mạc phát tiết Sương bình nguyên Trăng châu thổ Mùa xuân trong thi ca. Thúy Vân

Các sách xuất bản năm 1970, có:

Biển Đông xe cát Mùa thu trong thi ca.

Các sách xuất bản năm 1971, có:

Ngày tháng ngao du Đường đi trong rừng Lời cố quận Lễ hội tháng Ba Con đường ngã ba-Bước đi của tư tưởng…

Sách dịch

Các sách xuất bản năm 1966, có:

Trăng Tỳ hải Cõi người ta Khung cửa hẹp Hoa ngõ hạnh Othello

Các sách xuất bản năm 1967, có:

Bạo chúa Caligula Ngộ nhận Kim kiếm điêu linh

Các sách xuất bản năm 1968, có:

Con đường phản kháng Mùa hè sa mạc Kẻ vô luân

Các sách xuất bản năm 1969, có:

Nhà sư vướng luỵ Ophélia Hamlet Hòa âm điền dã

Các sách xuất bản năm 1973 và 1974, có:

Hoàng Tử Bé (1973) Mùa xuân hương sắc (1974)…

Hiện nay, nhiều tác phẩm của ông đã và đang được tái bản và xuất bản trong và ngoài nước. Trong một vài lần nhậu với Huỳnh Hoàng Anh Bình Dương nghe nói về nhà Thơ Bùi Giáng… sau nầy mới biết thơ ông có rất nhiều đọc giả yêu thích đến thế. Và còn nghe nói ông là nhà thơ Điên nữa. Đọc thơ ông mới thấy ông khôn thấy mồ chứ điên cài gì?

[/fusion_builder_column][/fusion_builder_row][/fusion_builder_container]

Bài viết liên quan: MgSO4 có kết tủa không? MgSO4 là chất gì – Magie sulfat – VnDoc.com

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*